Chuyển đến nội dung chính

Tâm Xả

 Tâm Xả [ Upekkhā ]:


Tâm xả là trạng thái trầm tĩnh hoàn hảo không bị dao động của tâm bắt nguồn từ Tuệ Giác. Hãy nhìn thế giới xung quanh và nhìn vào trái tim của chính mình, chúng ta thấy rõ rằng để đạt được và duy trì sự trầm tĩnh là khó khăn như thế nào.

 

Nhìn vào cuộc sống, chúng ta có thể thấy nó thay đổi liên tục như thế nào. Sinh & diệt; thành công & thất bại; được & mất; vinh & nhục. Trái tim của chúng ta phản ứng thế nào với tất cả những sự kiện này?

Hạnh phúc & khổ đau; hỷ lạc & tuyệt vọng; bất mãn & hài lòng; hy vọng & sợ hãi. Những làn sóng cảm xúc này nâng chúng ta lên rồi lại ném chúng ta xuống, chưa kịp nghỉ ngơi thì chúng ta lại bị cuốn vào một làn sóng mới. Làm sao chúng ta có thể mong đợi có được chỗ đứng trên đỉnh sóng? Làm thế nào chúng ta có thể xây dựng cuộc sống của mình giữa một đại dương đầy xáo động này nếu không phải trên hòn đảo của sự trầm tĩnh. Một thế giới mà niềm hạnh phúc dù nhỏ bé vẫn có thể hiện hữu sau bao nhiêu thất vọng và thất bại. Một thế giới mà chỉ có lòng can đảm để bắt đầu lại hết lần này đến lần khác mới hứa hẹn thành công. Một thế giới mà chút niềm vui ít ỏi vẫn có cơ hội phát triển giữa bệnh tật, sự chia ly và cái chết. Một thế giới mà những chúng sinh trước đây đã chia sẻ với chúng ta Tâm hoan hỉ cao thượng, giờ đây lại cần đến lòng Bi mẫn của chúng ta. Một thế giới như vậy rất cần sự trầm tĩnh.


Nhưng sự trầm tĩnh này phải dựa trên sự tỉnh giác, chứ không phải trên sự thờ ơ, vô cảm. Nó phải là kết quả của sự thực tập chăm chỉ và có chủ ý, chứ không phải là sự ngẫu nhiên của một tâm trạng thoáng qua.



Nhưng sự trầm tĩnh sẽ không xứng đáng với tên gọi của nó, nếu nó được tạo ra do cố ý nỗ lực hết lần này đến lần khác. Trong trường hợp đó, chắc chắn nó sẽ bị suy yếu và cuối cùng bị khuất phục bởi những thăng trầm của cuộc sống. 

Sự trầm tĩnh đích thực phải có khả năng đáp ứng được tất cả những thử thách khắc nghiệt và tự phục hồi sức mạnh từ nội lực. Sự trầm tĩnh đích thực, sẽ có được khả năng vô nhiễm và tự làm mới nếu nó được sinh ra từ tuệ giác.

 

Bản chất của Tuệ giác đó là gì?

Đó là sự hiểu biết rõ ràng về nguồn gốc của tất cả những thăng trầm của cuộc sống, và về bản chất thật sự của chính chúng ta. Chúng ta phải hiểu rằng những trải nghiệm khác nhau mà chúng ta trải qua là kết quả từ nghiệp quá khứ của bản thân. Là những chủ ý biểu lộ qua ý nghĩ, lời nói và hành động được thực hiện trong đời này và những đời trước. Nghiệp là thai tạng mà từ đó chúng ta sinh ra. 


Và dù muốn hay không chúng ta vẫn là chủ nhân bất khả nhường của các hành động của mình. Ngay khi một hành động được thực thi, sự kiểm soát của chúng ta đối với nó đã mất đi. Nó sẽ mãi mãi gắn liền với chúng ta và chắc chắn sẽ cho quả xứng đáng[ ]. Không có gì xảy ra với chúng ta đến từ một thế giới xa lạ, thù địch bên ngoài kia. Mọi thứ đều là kết quả của việc tư duy và hành động của chính chúng ta.


Vì hiểu biết điều này, giải phóng chúng ta khỏi sợ hãi nên nó đóng vai trò là nền tảng đầu tiên cho sự trầm tĩnh. Khi mọi việc xảy đến với chúng ta, thực ra là chúng ta chỉ đang gặp lại chính mình, tại sao chúng ta phải sợ hãi?

Tuy nhiên, nếu nỗi sợ hãi hay sự bất an nảy sinh chúng ta biết nơi nương tựa, nơi có thể xoa dịu được chúng. Chính là những thiện nghiệp hay việc làm tốt của chúng ta. Nhờ nương tựa như vậy, sự tự tin và lòng can đảm sẽ phát triển nơi chúng ta. Tự tin vào năng lực hộ trì của những việc làm tốt mà chúng ta đã làm trong quá khứ, Can đảm thực hiện nhiều việc thiện hơn ngay bây giờ, bất chấp những gian khó của cuộc sống hiện tại. 


Vì chúng ta biết rằng những hành động cao thượng và vị tha sẽ mang lại sự bảo vệ tốt nhất, trước những cú giáng của số phận. Rằng không bao giờ là quá muộn, lúc nào cũng là thời điểm thích hợp để làm việc thiện. 


Nếu nơi nương tựa đó, nơi của làm thiện và tránh ác trở nên vững chắc trong chúng ta, thì một ngày nào đó chúng ta sẽ cảm thấy vô cùng bình an. Những đau khổ và ác nghiệp đã bám rễ trong quá khứ được đoạn trừ ngày càng nhiều hơn. Và ở đời sống hiện tại này, tôi cố gắng giữ cho nó không bị tì vết và thanh tịnh. Tương lai còn có thể mang lại điều gì khác hơn là sự tăng trưởng của những điều tốt đẹp. 

Và từ sự bình an đó, tâm trí chúng ta sẽ trở nên thanh thản và chúng ta sẽ có được sức mạnh của sự kham nhẫn và trầm tĩnh để đón nhận mọi nghịch cảnh hiện tại. Khi đó nghiệp hay những hành động sẽ trở thành bạn bè của chúng ta.

 

Tương tự như vậy, tất cả các sự kiện khác nhau trong cuộc sống sống đều là kết quả từ những hành động của chúng ta. Chúng cũng sẽ là bạn của chúng ta ngay cả khi chúng mang đến đau khổ. 

Những nghiệp quá khứ quay trở lại với chúng ta dưới nhiều hình thức khác nhau và thường khó có thể nhận ra. Đôi khi nghiệp quá khứ quay trở lại với chúng ta dưới dạng nhận sự đối xử từ người khác. Đôi khi là một biến động lớn trong cuộc sống. 

Thường thì kết quả đi ngược lại với mong đợi hoặc trái với ý muốn của chúng ta. Những trải nghiệm như vậy, dạy cho chúng ta thấy hậu quả của những việc làm mà mình đã không lường trước được. Chúng phơi bày những động cơ do chủ ý, hoặc nửa chủ ý, nửa không về những hành động trước đây mà chúng ta đã cố gắng che giấu, ngay cả với chính mình, che đậy bằng nhiều lý do khác nhau.

 

Nếu chúng ta học cách nhìn mọi thứ từ góc độ này và đọc được thông điệp từ những trải nghiệm của chính mình, thì đau khổ cũng sẽ là bạn của chúng ta. Đó sẽ là một người bạn nghiêm khắc nhưng là một người bạn trung thực và có thiện chí. Người dạy chúng ta môn học khó nhất _ kiến thức về bản thân. Và cảnh báo chúng ta về những vực thẳm mà chúng ta đang hướng tới một cách mù quáng. 



Bằng cách xem đau khổ như người thầy, người bạn của mình. Chúng ta sẽ thành công hơn trong việc đón nhận nó với sự trầm tĩnh. Do đó, giáo lý về nghiệp sẽ mang đến cho chúng ta một động lực mạnh mẽ để giải thoát bản thân khỏi nghiệp, khỏi những hành động liên tục đẩy chúng ta vào đau khổ của những lần tái sinh. Sự nhờm gớm sẽ nảy sinh đối với lòng tham muốn, ảo tưởng và xu hướng bất thiện của chúng ta. Tạo ra những tình huống thử thách sức mạnh, khả năng vô nhiễm và sự trầm tĩnh của chúng ta. 


Tuệ Giác thứ hai mà tâm xả nên dựa vào là giáo lý vô ngã [anatta] của Đức Phật. Học thuyết này trình bày rằng: theo thực tại tối thượng, các hành động không do bất kỳ một từ ngã nào thực hiện, và kết quả của chúng cũng không ảnh hưởng đến bất kỳ một từ ngã nào khác.

Hơn nữa, nó cho thấy rằng nếu không có cái tôi thì chúng ta không thể có cái của tôi. Chính sự ảo tưởng về tự ngã đã tạo ra đau khổ và cản trở hoặc làm xáo trộn tâm xả hay trạng thái trầm tĩnh.


Nếu có người chê trách chúng ta thế này, thế kia, chúng ta sẽ nghĩ: “tôi bị khiển trách”, và sự trầm tĩnh sẽ bị lung lay ngay. Nếu làm gì đó không thành công, chúng ta nghĩ: “công việc của tôi đã thất bại”, và sự trầm tĩnh bị lung lay. Nếu bị mất của cải hay người thân qua đời, chúng ta nghĩ: “những gì thuộc về tôi đã ra đi” và sự trầm tĩnh một lần nữa bị lung lay.


Để thiết lập sự trầm tĩnh như một trạng thái tâm không lay chuyển: Chúng ta phải từ bỏ mọi ý nghĩ sở hữu của tôi. Bắt đầu từ những điều nhỏ nhặt mà chúng ta có thể dễ dàng xả ly. Và dần dần tiến tới những đối tượng sở hữu và mục tiêu mà toàn bộ tâm trí chúng ta dính mắc vào. 

Chúng ta cũng phải từ bỏ những ý nghĩ tương ứng, tất cả những suy nghĩ ích kỷ về cái tôi. Bắt đầu từ một phần nhỏ trong tính cách của một người, rồi đến những phẩm chất thứ yếu, sau đó là những điểm yếu mà chúng ta thấy rõ. Và dần dần tiến đến những cảm xúc và thái độ chống đối mà chúng ta coi là giá trị lõi của mình.


Theo cách đó, sự xả ly nên được thực hành ở mức độ chúng ta có thể từ bỏ ý niệm của tôi hay tôi. Sự trầm tĩnh sẽ bước vào trái tim chúng ta.

Liệu bất cứ điều gì chúng ta nhận ra không thuộc về mình, và không phải là mình, có thể khiến chúng ta bị kích động lòng tham muốn, sân hận hay đau buồn không? Theo cách đó, giáo lý vô ngã sẽ là kim chỉ nam cho chúng ta trên con đường đi đến giải thoát, đến trạng thái hoàn toàn bình thản.


Tâm Xả là đỉnh cao của tứ đại hảo tâm, nhưng không nên hiểu nó theo nghĩa là sự phủ nhận đối với tâm Từ, Bi và Hỷ. Boặc ba đại hảo tâm này không sánh được với tâm Xả. Trái lại Tâm Xả bao hàm và thấm nhuần ba tâm còn lại một cách trọn vẹn. Cũng như ba tâm Từ, Bi và Hỷ thấm nhuần hoàn toàn phẩm chất của sự trầm tĩnh. 


Nhận xét

Bài đăng phổ biến từ blog này

Thất Giác Chi (Satta Bojjhaṅga) - Bảy Chi Phần Giác Ngộ

  Thất Giác Chi là bảy yếu tố tâm linh dẫn đến giác ngộ, được Đức Phật giảng dạy trong nhiều bài kinh thuộc Tạng Kinh (Sutta Piṭaka), đặc biệt trong Tương Ưng Kinh (Saṃyutta Nikāya, SN 46). Chúng được xem là những chi phần cốt lõi giúp hành giả phát triển trí tuệ, đoạn trừ phiền não và đạt đến Niết-bàn. Trong Vi Diệu Pháp (Abhidhamma Piṭaka), Thất Giác Chi được phân tích chi tiết về mặt tâm lý học Phật giáo, và trong Thanh Tịnh Đạo (Visuddhimagga) của ngài Buddhaghosa, chúng được trình bày như một phần của con đường thanh tịnh hóa tâm. I. Định nghĩa và tổng quan Thất Giác Chi (Satta Bojjhaṅga) bao gồm bảy yếu tố tâm linh, được gọi là "chi phần của giác ngộ" vì chúng dẫn đến sự chứng ngộ chân lý và giải thoát. Trong Kinh Đại Niệm Xứ (Mahāsatipaṭṭhāna Sutta, DN 22), Thất Giác Chi là một trong bốn nền tảng chánh niệm (Satipaṭṭhāna), thuộc phần quán pháp (Dhammānupassanā). Chúng là: 1. Niệm Giác Chi (Sati-sambojjhaṅga): Chánh niệm, sự tỉnh giác. 2. Trạch Pháp Giác Chi (Dhamm...

Giáo Lý Nền Tảng Đạo Phật

Được Đức Phật Siddhattha Gotama khai mở từ chứng ngộ sâu sắc và ghi lại trong Tipiṭaka , những giáo lý nền tảng này đóng vai trò như kim chỉ nam, giúp người tu hiểu rõ bản chất khổ đau của luân hồi, nhận diện nguyên nhân phiền não, và thực hành đúng con đường dẫn đến Niết-bàn.   Sự cần thiết của giáo lý nền tảng nằm ở chỗ không chỉ cung cấp tri thức lý thuyết mà còn là phương pháp thực tiễn, giúp hành giả thiền sinh, Phật tử phát triển chánh niệm, đoạn trừ kiết sử, và sống đúng chánh pháp.  Thiếu hiểu biết này khiến ta không có định hướng rõ ràng trong tu tập, dễ lạc lối trong thực hành, và không thể tiến tới mục tiêu giải thoát cuối cùng ( Nibbāna ).  Đức Phật nhấn mạnh trong Dhammacakkappavattana Sutta (Tương Ưng Bộ Kinh 56.11) rằng không hiểu Tứ Diệu Đế là nguyên nhân khiến chúng sinh trôi lăn mãi trong luân hồi ( saṃsāra ). I. Tổng Quan Về Giáo Lý Nền Tảng Giáo lý nền tảng của Đạo Phật bắt nguồn từ bài pháp đầu tiên của Đức Phật Thích Ca Mâu Ni tại Lộc Uyển, được ...