Chuyển đến nội dung chính

Tâm Từ


 

Tâm Từ [ Mettā ] là:


Là tình thương không đi kèm với mong muốn chiếm hữu, hiểu rõ rằng: trong ý nghĩa cao nhất của tình thương không hề có sự chiếm hữu và người chiếm hữu. Đây là đỉnh cao của tình thương.

Là tình thương không đi kèm với lời nói hay ý nghĩ về cái tôi, hiểu rõ rằng cái được gọi là tôi chỉ đơn thuần là một ảo tưởng.


Là tình thương không đi kèm với sự kén chọn, hiểu rõ rằng: làm như vậy là để tạo ra sự đối lập của tình thương. So với thái độ không thích và  sân hận là tình thương đón nhận tất cả chúng sinh nhỏ và lớn, xa và gần, trên mặt đất, trong nước hoặc trong không trung, là tình thương đón nhận không thiên vị tất cả chúng hữu tình chứ không chỉ những chúng sinh hữu ích, đẹp lòng hay vừa ý chúng ta.


Là tình thương đón nhận tất cả chúng sinh, dù là người cao thượng hay thấp kém, tốt hay xấu.

Người tốt và cao thượng được đón nhận là lẽ hiển nhiên vì tình thương luôn tự chảy về phía họ. Người thấp kém và xấu tính cũng cần được đón nhận, bởi vì họ là những người đang cần tình thương nhất. Hầu hết trong số họ, hạt giống thiện lành có lẽ đã chết do không nhận đủ sự ấm áp để sinh trưởng, hoặc đã bị chết cống trong một thế giới lãnh đạm, không tình thương.


Là tình thương đón nhận tất cả chúng sinh, hiểu rõ rằng: tất cả chúng ta đều chung cảnh ngộ trôi lăn trong luân hồi. Tất cả chúng ta không ai nằm ngoài Khổ Đế.

Là tình thương nhưng không phải do ngọn lửa nhục dục thiêu đốt và hành hạ, gây ra nhiều tổn thương hơn là chữa lành, lúc này bùng lên, lúc sau bị dập tắt, để lại nhiều lạnh lẽo và cô đơn hơn những gì đã từng cảm thấy trước đây.

 

Là tình thương giống như một bàn tay mềm mại nhưng chắc chắn vỗ về những chúng sinh đau yếu, luôn tràn đầy cảm thông không dao động, không màng bất kỳ phản ứng nào mà nó gặp phải.


Là tình thương mang lại sự mát mẻ, an ủi cho những ai đang bị thiêu đốt trong ngọn lửa đau khổ và đam mê. Đó là hơi ấm mang lại sức sống cho những người bị bỏ lại trong đêm sa mạc, lạnh lẽo cô đơn, cho những người đang run rẩy trong sương giá của một thế giới không có tình thương. Đối với những người mà trái tim của họ dường như đã trở nên khô cằn và nứt nẻ bởi những lời kêu cứu liên tục trong vô vọng, bởi đã rơi đến đấy của tuyệt vọng.

 

Là tình thương cao cả từ trái tim và trí tuệ luôn biết hiểu và sẵn sàng giúp đỡ.

Là tình thương từ sự vững chãi và mang đến sự vững chãi. Đây là tình thương cao cả nhất, là tình thương được đấng giác ngộ gọi là tâm giải thoát, vẻ đẹp cao thượng nhất, đây là tình thương cao thượng nhất.


Và biểu hiện cao nhất của tình thương là gì: Là khả năng chỉ dẫn cho thế gian con đường dẫn đến sự chấm dứt hoàn toàn mọi khổ đau. Con đường đã được chỉ ra, thực hành và chứng ngộ đến mức hoàn thiện bởi Đức Phật.


Nhận xét

Bài đăng phổ biến từ blog này

Thất Giác Chi (Satta Bojjhaṅga) - Bảy Chi Phần Giác Ngộ

  Thất Giác Chi là bảy yếu tố tâm linh dẫn đến giác ngộ, được Đức Phật giảng dạy trong nhiều bài kinh thuộc Tạng Kinh (Sutta Piṭaka), đặc biệt trong Tương Ưng Kinh (Saṃyutta Nikāya, SN 46). Chúng được xem là những chi phần cốt lõi giúp hành giả phát triển trí tuệ, đoạn trừ phiền não và đạt đến Niết-bàn. Trong Vi Diệu Pháp (Abhidhamma Piṭaka), Thất Giác Chi được phân tích chi tiết về mặt tâm lý học Phật giáo, và trong Thanh Tịnh Đạo (Visuddhimagga) của ngài Buddhaghosa, chúng được trình bày như một phần của con đường thanh tịnh hóa tâm. I. Định nghĩa và tổng quan Thất Giác Chi (Satta Bojjhaṅga) bao gồm bảy yếu tố tâm linh, được gọi là "chi phần của giác ngộ" vì chúng dẫn đến sự chứng ngộ chân lý và giải thoát. Trong Kinh Đại Niệm Xứ (Mahāsatipaṭṭhāna Sutta, DN 22), Thất Giác Chi là một trong bốn nền tảng chánh niệm (Satipaṭṭhāna), thuộc phần quán pháp (Dhammānupassanā). Chúng là: 1. Niệm Giác Chi (Sati-sambojjhaṅga): Chánh niệm, sự tỉnh giác. 2. Trạch Pháp Giác Chi (Dhamm...

Giáo Lý Nền Tảng Đạo Phật

Được Đức Phật Siddhattha Gotama khai mở từ chứng ngộ sâu sắc và ghi lại trong Tipiṭaka , những giáo lý nền tảng này đóng vai trò như kim chỉ nam, giúp người tu hiểu rõ bản chất khổ đau của luân hồi, nhận diện nguyên nhân phiền não, và thực hành đúng con đường dẫn đến Niết-bàn.   Sự cần thiết của giáo lý nền tảng nằm ở chỗ không chỉ cung cấp tri thức lý thuyết mà còn là phương pháp thực tiễn, giúp hành giả thiền sinh, Phật tử phát triển chánh niệm, đoạn trừ kiết sử, và sống đúng chánh pháp.  Thiếu hiểu biết này khiến ta không có định hướng rõ ràng trong tu tập, dễ lạc lối trong thực hành, và không thể tiến tới mục tiêu giải thoát cuối cùng ( Nibbāna ).  Đức Phật nhấn mạnh trong Dhammacakkappavattana Sutta (Tương Ưng Bộ Kinh 56.11) rằng không hiểu Tứ Diệu Đế là nguyên nhân khiến chúng sinh trôi lăn mãi trong luân hồi ( saṃsāra ). I. Tổng Quan Về Giáo Lý Nền Tảng Giáo lý nền tảng của Đạo Phật bắt nguồn từ bài pháp đầu tiên của Đức Phật Thích Ca Mâu Ni tại Lộc Uyển, được ...

Tâm Xả

  Tâm Xả [ Upekkhā ]: Tâm xả là trạng thái trầm tĩnh hoàn hảo không bị dao động của tâm bắt nguồn từ Tuệ Giác. Hãy nhìn thế giới xung quanh và nhìn vào trái tim của chính mình, chúng ta thấy rõ rằng để đạt được và duy trì sự trầm tĩnh là khó khăn như thế nào.   Nhìn vào cuộc sống, chúng ta có thể thấy nó thay đổi liên tục như thế nào. Sinh & diệt; thành công & thất bại; được & mất; vinh & nhục. Trái tim của chúng ta phản ứng thế nào với tất cả những sự kiện này? Hạnh phúc & khổ đau; hỷ lạc & tuyệt vọng; bất mãn & hài lòng; hy vọng & sợ hãi. Những làn sóng cảm xúc này nâng chúng ta lên rồi lại ném chúng ta xuống, chưa kịp nghỉ ngơi thì chúng ta lại bị cuốn vào một làn sóng mới. Làm sao chúng ta có thể mong đợi có được chỗ đứng trên đỉnh sóng? Làm thế nào chúng ta có thể xây dựng cuộc sống của mình giữa một đại dương đầy xáo động này nếu không phải trên hòn đảo của sự trầm tĩnh. Một thế giới mà niềm hạnh phúc dù nhỏ bé vẫn có thể hiện hữu sau bao ...