Tham ái (hay taṇhā trong tiếng Pāli) là một đề tài quan trọng cần phải hiểu. Nó chính là Sự Thật thứ hai trong Tứ Diệu Đế, nguyên nhân của khổ. Tham ái có ba khía cạnh, dục ái, hữu ái, và phi hữu ái. Tương ứng theo tên gọi của chúng trong tiếng Pāli là, kāma-taṇhā, bhava-taṇhā, và vibhava-taṇhā.
Dục ái hay kāma-taṇhā rất dễ nhận biết. Loại tham ái này luôn tìm kiếm những khoái cảm thông qua những xúc chạm nơi cơ thể hoặc các giác quan khác. Nó không ngừng tìm kiếm những thứ có thể kích thích hoặc làm hài lòng các giác quan. Chúng ta có thể dễ dàng quan sát loại tham ái này: bạn sẽ cảm thấy như thế nào khi dục ái hay cảm giác khoái lạc đang hiện diện bên trong bạn? Ví dụ như trong bữa ăn, bạn đang đói và thức ăn thì rất ngon, bạn có thể nhận ra ý muốn ăn thêm một miếng nữa, rồi một miếng nữa đúng không? Hãy chú ý đến loại cảm giác này khi bạn đang nếm một món gì đó rất ngon; và để ý xem cách mà bạn muốn có được nhiều hơn như thế nào. Đừng chỉ tin suông vào những lời này; hãy tự mình thử nghiệm. Đừng nghĩ rằng mình đã biết, chỉ vì những thói quen này đã từng diễn ra trước nay. Hãy thử trải nghiệm lại khi bạn ăn. Hãy nếm thử một món gì đó hay trải nghiệm một thứ gì đó hấp dẫn và xem điều gì xảy ra: tham ái khởi sinh, tham ái muốn có nhiều hơn nữa. Đó chính là dục ái, kāma taṇhā.
Chúng ta cũng có thể quan sát cảm giác muốn trở thành hoặc trở nên như thế nào đó. Khi vô minh vẫn còn đó, ngoài sự thúc đẩy của dục ái tìm kiếm thứ gì đó ngon để ăn hoặc một bản nhạc hay để nghe, chúng ta còn có thể sẽ bị cuốn vào lãnh vực khác của tham ái, đó là sự tham vọng và thành đạt, khát khao trở thành. Chúng ta bị cuốn vào xu hướng rượt đuổi theo hạnh phúc, tìm cách để trở nên giàu có; hoặc cố gắng làm cho cuộc sống của mình trở nên quan trọng hơn thông qua những nỗ lực cải thiện hoặc thay đổi thế giới. Vì vậy, hãy quan sát cái cảm giác muốn trở thành một phiên bản khác so với con người hiện tại của mình. Tham ái này gọi là hữu ái hay bhava-taṇhā trong tiếng Pāli.
Hãy lắng nghe bhava-taṇhā trong cuộc đời bạn: ‘Tôi muốn hành thiền để thoát khỏi khổ đau. Tôi muốn giác ngộ. Tôi muốn trở thành một tu sĩ hay một nữ tu. Tôi muốn giác ngộ trong tư cách là một người cư sĩ. Tôi muốn có vợ con và một nghề nghiệp chuyên môn. Tôi muốn tận hưởng dục lạc vật chất của thế gian, không cần phải từ bỏ bất cứ thứ gì, mà vẫn đạt được quả vị giác ngộ của một bậc A-la-hán.”
Khi việc cố gắng trở thành một phiên bản khác của chúng ta bị thất bại, thì tâm sẽ khởi lên một loại tham ái khác, mong muốn loại bỏ hay thoát ra khỏi mọi thứ. Loại tham ái này được gọi là phi hữu ái hay vibhava-taṇhā trong tiếng Pāli. Vậy, chúng ta hãy cùng quan sát vibhava-taṇhā: ‘Tôi muốn thoát khỏi đau khổ. Tôi muốn thoát khỏi những thất bại. Tôi không thể chấp nhận những điều bất như ý này, hoặc là nó biến mất hoặc là tôi đi tìm một nơi khác. Tôi muốn loại bỏ sự ghen tị, sợ hãi và lo lắng.”
Hãy lưu ý những mong muốn này, chúng chính là phản ảnh của vibhava-taṇhā. Chúng ta chỉ cần quan sát thái độ muốn loại trừ đang hiện diện nơi tâm; chúng ta không cố để loại trừ vibhava-taṇhā. Chúng ta cũng không xu hướng chống lại thái độ phi hữu ái cũng không thoả hiệp với nó. Thay vì vậy, chúng ta sẽ quán chiếu, ‘À, nó trông như thế này; thái độ muốn loại trừ sẽ mang lại cảm giác như vậy; Tôi phải chế ngự cơn giận của mình; Tôi phải diệt trừ tâm ma và loại bỏ lòng tham của mình - khi đó tôi sẽ trở thành...' Từ dòng suy nghĩ này, chúng ta có thể thấy được rằng hữu ái và phi hữu ái có ảnh hưởng qua lại với nhau.
Tuy nhiên, hãy nhớ rằng việc phân loại tham ái thành kāma-taṇhā, bhava-taṇhā, và vibhava-taṇhā này chỉ để giúp cho việc quan sát được dễ dàng hơn. Chúng không phải là ba loại tham ái hoàn toàn tách biệt mà chỉ là ba khía cạnh khác nhau của tham ái.
Cái thấy sâu sắc thứ hai về Diệu đế thứ hai là:
‘Tham ái cần phải được buông bỏ.’ Đây là lý do vì sao sự buông bỏ luôn được đề cập đến trong Pháp hành của chúng ta. Tuy bạn có cái thấy sâu sắc rằng tham ái cần phải được buông bỏ, nhưng cái thấy đó không phải là tham muốn loại trừ bất cứ thứ gì. Nếu bạn không đủ sáng suốt và không thường quán chiếu tâm mình, bạn sẽ rất dễ bị xu hướng theo ý nghĩ ‘Tôi muốn loại bỏ hoặc tôi muốn buông bỏ mọi tham ái của mình’ - nhưng đây thực chất chỉ là một tham ái khác. Tuy nhiên, bạn có thể vận dụng hiểu biết này để quán chiếu lại tâm tham ái; bạn sẽ thấy rõ đây là phi hữu ái, đây là hữu ái, và đây là dục ái. Bằng cách hiểu rõ ba khía cạnh tham ái này, bạn sẽ có thể buông bỏ được chúng.
Diệu Đế thứ hai được chỉ ra không phải để bạn có những suy nghĩ như, “Tôi có rất nhiều dục ái”, hay “Tôi có hữu ái” hoặc “Tôi thực sự là một người theo chủ nghĩa phi hữu ái”, “Tôi chỉ muốn thoát khỏi mọi thứ”, “Tôi thực sự là một fan của vibhava-taṇhā”, “Đó là tôi”. Diệu Đế thứ hai được đức Phật chỉ ra không phải để chúng ta đồng nhất với những tham ái theo bất kỳ cách nào; mà là để chúng ta dễ dàng nhận rõ chúng.
Pháp hành này không phải để chán ghét bản thân vì có những tham ái như vậy, mà là để giúp chúng ta thực sự thấy rằng những khuynh hướng tâm lý này chỉ là do tâm bị điều kiện hoá. Chúng không nằm ngoài sự vô thường. Tham ái không phải là bản chất của chúng ta mà chỉ là khuynh hướng phản ứng do còn vô minh và chưa hiểu ra Tứ Diệu Đế theo ba khía cạnh: hiểu, hành, và chứng. Chúng ta có xu hướng phản ứng như vậy với mọi thứ. Đây là những phản ứng bình thường do thiếu hiểu biết.
Nhưng chúng ta không cần thiết phải bi quan vì nghĩ rằng mình là một nạn nhân vô vọng của tham ái. Cứ cho phép tham ái diễn ra như chúng vốn là để chúng ta có thể nhận diện, quan sát và buông bỏ chúng. Chỉ khi nào chúng ta đồng nhất và phản ứng với tham ái, thì chúng mới có thể lấn át và lừa dối chúng ta được.


Nhận xét
Đăng nhận xét